Ước Mơ Nhỏ - Tất cả vì trẻ em nghèo

Bình Tam Quốc 6: Gia Cát Khổng Minh.

 Gia Cát Lượng: tự là Khổng Minh, đạo hiệu là Ngọa Long tiên sinh, là vị quân sư và đại thần của nước Thục thời hậu Hán, người đất Dương Đô (nay thuộc huyện Nghi Nam, tỉnh Sơn Đông) quận Lang Nha đời Thục Hán. 
.
Ông mồ côi từ bé, thuở trẻ thường tự ví tài mình như Quản Trọng, Nhạc Nghị. Nhưng theo Thủy Kính tiên sinh thì:" Tài của ông phải được ví với Khương Tử Nha làm nên cơ nghiệp 800 năm của nhà Chu và Trương Tử Phòng làm nên cơ nghiệp 400 năm của nhà Hán.".
Có lẽ chúng ta chỉ nói thời gian Ông Gia Cát bắt đầu đi kinh tế mới tới Nam Dương thuộc vùng Long Trung, chỗ ở có trái núi Ngọa Long Cương. Người ta gọi luôn ông là Ngọa Long tiên sinh. Ông tự mình cày ruộng, thích làm ca từ theo khúc "Lương Phủ Ngâm". Ông có 3 anh em, anh cả Gia Cát Cẩn làm quan bên Đông Ngô, em thứ là Gia Cát Quân không làm quan, em họ Gia Cát Đản làm quân cho Ngụy. Tương truyền ông học giỏi một phần nhờ vợ là Hoàng Nguyệt Anh, một người rất xấu nhưng có tài năng, con gái của danh sĩ Hoàng Thừa Ngạn ở Nhữ Nam (cái này chúng ta sẽ luận sau nhé). Người đời mới có câu thơ:
Mạc học Khổng Minh trạch phụ
Chi đắc A Thừa xú nữ
Khi Lưu Bị ở Tân Dã, có đến Tư Mã Đức Tháo bàn việc thiên hạ. Tư Mã Đức Tháo nói: "Bọn nho sinh đời nay chỉ là một phường tục sĩ, hạng tuấn kiệt chỉ có hai người, đó là Ngọa Long và Phượng Sồ. Ngọa Long tức Gia Cát Khổng Minh, Phượng Sồ tức Bàng Thống tự Sỹ Nguyên. Có được 1 trong 2 người đó thì có thể định được thiên hạ". Sau có Từ Thứ, một nhân vật có mưu lược, tiến cử Gia Cát Lượng cho Lưu Bị. Lưu Bị có hỏi tài năng của Khổng Minh so với ngài thì thế nào, Từ Thứ ca luôn tức thì: "Tôi so với ông ấy như ngựa so với Kỳ lân, như quạ so với Phượng hoàng, ông có ông ấy như Chu công về Lã Vọng, như Hán vương được Trương Lương". Lưu Bị 3 lần thân đến Long Trung mời Khổng Minh ra giúp, tôn ông làm quân sư. Lúc bấy giờ là năm 208, Lưu Bị 47 tuổi, Gia Cát Lượng chỉ mới 27 tuổi.
 
Khổng Minh đã giúp Lưu Bị rất nhiều. Chúng ta sẽ từ từ luận từng trận đánh, từng mưu lược và cả cách hành xử của ông trong các bài sau.

Sau khi chết, Lưu Bị còn để lại di chúc bắt con trưởng là Lưu Thiện phải kính nể Gia Cát Lượng như cha đẻ.

Nhà vua Lưu Thiện mới 17 tuổi không có tài, Gia Cát Lượng phải lo lắng toàn cục, chỉnh đốn nội bộ và chấn chỉnh lực lượng. Dưới sự cai trị của ông, nước Thục dần dần mạnh lên. Sau khi trừ bỏ được những lo lắng trong nước, Gia Cát Lượng đã đem quân xuống phía nam để thu phục dân bản địa. Gia Cát Lượng ra quân không lâu đã bắt sống được Mạnh Hoạch, một thủ lĩnh có tiếng. Gia Cát Lượng "chiếm lòng người" chính là việc 7 lần bắt, 7 lần tha Mạnh Hoạch.
 
Gia Cát Lượng Bắc phạt cả thảy là 7 năm, phát động 4 lần đánh nhau. Mấy lần xuất quân đều chưa giành được thắng lợi hoàn toàn do Lý Nghiêm trễ nải cấp lương nên giả truyền thánh chỉ, 2 lần khác do Lưu Thiện nghe lời gièm pha mà nửa chừng hạ chiếu lui quân.

Tháng 8 năm 234, do khó nhọc mà Gia Cát Lượng sinh bệnh rồi mất, lúc bấy giờ ông mới 54 tuổi, được phong tặng là Trung Vũ Hầu người đời thường gọi là Gia Cát Vũ Hầu. Ông được chôn tại ngọn núi Định Quân ở vùng Hán Trung. Ông mất mà vẫn không trung hưng được nhà Hán, nước vẫn ở thế chân vạc chia ba. Ba mươi năm sau khi ông mất, Lưu Thiện đầu hàng nước Ngụy, nước Thục Hán bị diệt vong.
Suốt hai đời vua là Lưu Bị và Lưu Thiện, mọi việc ở Thục đều do một tay Khổng Minh chủ trương và thi hành. Ông giỏi về binh thư binh pháp, có tài về nội trị, ngoại giao, được xem là văn võ kiêm toàn, tài đức lưỡng bị... nên được hậu thế gọi là "vạn đại quân sư", coi là một tấm gương sáng cho muôn thuở. Ấy rằng dã sử là thế và người đời đơn giản bình và nhớ đến như thế. Nhưng ở đây, chúng ta đang đánh bài bằng những lá bài của Tam Quốc và chất chủ đạo của bài là Tam quốc Diễn nghĩa. Vậy thì, cũng nên có nhiều giọng điệu, góc nhìn, lời bình…về các nhân vật trong Tam Quốc.

Ông La Quán Trung có lẽ rất ngưỡng mộ Gia Cát Lượng nên ông này cũng cho Lư Bị ngưỡng mộ bất chấp thời gian, công sức, đã bắt Lưu Bị tìm đến Long Trung để thỉnh cầu mãi đến lần thứ ba mới gặp được nên mới có câu "Lưu Bị tam cố thảo lư". Gặp nhau một phát, ông Lượng chém gió nói kế sách định quốc an bang khiến Bị vô cùng kính phục lăn như bi. Bị mời Gia Cát Lượng xuống núi mưu tính đại sự. Gia Cát Lượng thấy Lưu Bị thật lòng cầu xin nên ông chấp nhận làm quân sư cho Lưu Bị, năm đó Gia Cát Lượng mới có 27 tuổi chính thức bước vào cuộc sống mới: chiến tranh!
Chào sân một phát, ông tác giả La Quán Trung điều chỉnh sử chính đem trận Bác Vọng Hỏa Công gắn luôn cho ông Gia Cát Khổng Minh làm quà ra mắt thật vang dội (theo các tài liệu khác thì Khổng Minh không chơi trận này – nhưng mà ta cứ tạm theo ông La Quán Trung nhể). Coi nào Cụ La Quán Trung mô tả: Khổng Minh cho quân mai phục chuẩn bị mọi thứ để tiêu diệt quân Tào tại Bác Vọng. Ông cho Triệu Tử Long và Lưu Bị dụ địch. Hạ Hầu Đôn gần tới đồi Bác Vọng thì thấy Lưu Bị ra đánh rồi rút lui vào thung lũng, cho rằng dù có mai phục ít nên thúc quân tiến vào Bác Vọng. Quân Tào tiến vào rừng tên lửa bắn xuống mịt mù, cây cối hai bên đường cháy to, quân Tào hoảng loạn dẫm đạp lên nhau mà chạy, lương thực toàn bộ bị cháy. Toàn bộ Tào quân bị tiêu diệt, tướng Hạ Hầu Đôn chạy thoát. Từ đó uy tín của Khổng Minh lại càng được nể trọng.

Hán tặc phân minh trí chẩm biên

Đường đường đế trụ thảo lư tiền.
Thùy tri khoảnh khắc đàm tâm xứ
Mưu đắc giang sơn ngũ thập niên?

(Tạm dịch: Trên gối, biết ai vua, ai giặc, Bỗng trang hoàng tộc viếng lều con. Ai hay chỉ một giờ tâm sự, Được giang sơn năm chục năm tròn?)

Sau trận đồi Bác Vọng, Tào Tháo dẫn đại quân đến Kinh Châu. Lưu Tông và mẹ là Sái thị dâng Kinh Châu cho Tào Tháo. Tào Tháo chiếm được Kinh Châu, đem quân đến Tân Dã truy kích Lưu Bị. Khổng Minh bèn lập kế mai phục quân Tào: sai Quan Vũ dẫn 1000 binh đi mai phục phía bờ sông Bạch Hà, quân lính mỗi người mang sẵn một bao cát đợi khi nghe tiếng ngựa hí thì ngăn nước sông xả nước cho nước cuốn chảy xuống. Ông lại sai Trương Phi mai phục ở Bác Lăng và dặn thấy quân Tào băng qua thì xông ra mà đánh. Cuối cùng ông sai Triệu Vân chia quân ba mặt Ðông,Tây, Nam, chừa phía Bắc cho quân Tào chạy, thấy có hiệu lửa thì xông ra mặt Bắc mà đánh đồng thời lệnh cho quân lính mang đồ dẫn lửa để sẵn trong nhà dân sau khi mọi người đã chạy đến Phàn Thành.
Sau đó, quân Tào do Tào Nhân, Tào Hồng, Hứa Chử kéo đến. Hứa Chử dẫn quân vào rừng gặp Lưu Bị, Khổng Minh, định lên bắt nhưng bị gỗ, đá cản lại. Còn Tào Nhân, Tào Hồng tiến vào thành Tân Dã bỏ trống. Lúc ấy quân Tào tất cả đều mỏi mệt nên nấu cơm ăn để nghỉ ngơi. Đêm đó, quân Lưu Bị tấn công. Tào Nhân thất kinh chạy ra thì thấy cả vùng lửa cháy ngút trời. Tào Nhân, Tào Hồng đang tìm đường thoát thân thì gặp quân của Triệu Vân ùa ra đánh giết. Quân Tào chạy một lúc nữa lại có con sông chặn trước mặt, nhưng nước cạn nên quân Tào không lo nữa, dẫn quân qua sông. Quan Vũ phục ở mé trên, bèn cho quân xả nước xuống, nước chảy xuống như thác vỡ bờ cuốn trôi quân Tào vô số. Tào Nhân, Tào Hồng dẫn tàn binh trốn chạy, bỗng đâu gặp Trương Phi, may nhờ có Hứa Chử đến cứu. Sau đó Lưu Bị, Khổng Minh và các tướng thẳng tới Phàn Thành.

Trong trận Xích Bích, Khổng Minh đến Giang Đông giúp đỡ đại đô đốc của Đông Ngô là Chu Du chống Tào Tháo. Chu Du từ lâu biết Khổng Minh là "thiên hạ kỳ tài", Du cho rằng để người như vậy sống về sau sẽ là họa cho Đông Ngô nên muốn tìm cách hại Khổng Minh. Đầu tiên Chu Du sai Khổng Minh dẫn quân đi cướp trại Tào Tháo nhưng ông đã khéo léo từ chối. Sau đó, Chu Du sai Khổng Minh trong 10 ngày làm 10 vạn mũi tên nhưng cố tình dặn thợ tên làm chậm nhằm hại Khổng Minh. Nhưng Khổng Minh hẹn trong 3 ngày sẽ làm xong. Chu Du mừng quá bảo Khổng Minh viết tờ quân lệnh. Khổng Minh bèn đến tìm mưu sĩ Lỗ Túc của Đông Ngô mượn 20 chiếc thuyền, mỗi chiếc có chừng ba mươi quân sĩ, trên thuyền dùng vải xanh làm màn che xung quanh, lại bó cỏ với rơm cho nhiều. Lỗ Túc nhận lời, 2 ngày đầu Khổng Minh không làm gì cả. Đến ngày thứ ba, vào đầu canh tư, Khổng Minh bỗng bí mật cho mời Lỗ Túc lên thuyền uống rượu rồi lại sai người lấy dây chạc dài, buộc hai mươi chiếc thuyền liền lại với nhau, rồi bảo quân nhắm bờ phía Bắc thẳng tới. Hôm ấy, sương mù rất nhiều. Đến đầu canh năm, Khổng Minh tiến sát đến thủy trại của Tào Tháo, Khổng Minh sai thủy thủ dàn ngang đoàn thuyền ra rồi đánh trống, hò reo ầm ĩ. Sái Mạo và Trương Doãn thấy sương mù dày đặc sợ có phục binh nên hạ lệnh cho quân sĩ bắn tên ra loạn xạ. Đợi đến gần sáng, Khổng Minh dẫn quân trở về, 20 chiếc thuyền cắm đầy tên của quân Tào, tính ra hơn 10 vạn. Chu Du trông thấy vô cùng kinh hãi, tự thấy tài kém Khổng Minh rất nhiều.
Chu Du muốn đánh hỏa công nhưng mùa đông chỉ có gió tây bắc thổi ngược về phía quân Ngô mà không có gió đông nam thổi về phía quân Tào nên lo lắng thành bệnh. Khổng Minh xin đi cầu gió đông cho Chu Du nổi lửa đốt trại Tào.
Khổng Minh bảo Chu Du hãy truyền xây ngay một đài thất tinh ở chân núi Nam Bình, ông sẽ cầu gió Đông luôn ba ngày ba đêm để giúp Chu Du. Lập tức Chu Du sai cất đài như lời Khổng Minh dặn. Khổng Minh lên đàn thắp nhang, làm phép cầu ba lần, vẫn chưa có gió. Đến canh hai, gió Đông nam thổi tới rất mạnh, quân Ngô nhân cơ hội đó châm lửa phóng hỏa đốt sạch chiến thuyền quân Tào. Việc lập đài cầu gió Đông Nam chẳng qua chỉ là hành động phụ thêm của Khổng Minh nhằm qua mắt Công Cẩn, tiện thoát thân, thể hiện sự tinh thông thiên văn, thời tiết... của Gia Cát Lượng. Nhờ "gió Đông nam của Khổng Minh" mà quân Ngô đại thắng quân Ngụy, Chu Du không bị nỗi nhục mất nước, mất vợ nên về sau thi sĩ đời Đường Đỗ Phủ có 2 câu thơ:

Gió Đông nếu chẳng vì Công Cẩn

Đồng Tước đêm xuân khóa Nhị Kiều.

Chỉ tạm kể 3 trận mà quân sư Gia Cát Khổng Minh bày kế đã thấy tác giả la Quán Trung tâm đắc với nhân vật này như thế nào. Trận đầu tiên, theo chính sử kể như không phải công của Khổng Minh. Trận cuối cùng thấy nó cứ gian gian thế nào ấy. Qua cách mô tả thì đúng là ông Khổng Minh sắp thành phù thủy đến nơi.

Càng đọc Tam Quốc càng thấy La Quán Trung khắc họa Gia Cát Lượng với nhiều tình tiết được thần thánh hoá đến lạ kỳ, những mẹo mực của tiên sinh quả là thần cơ diệu toán khôn lường đến quỷ thần cũng chẳng thể biết, thêm cả thuật kỳ môn độn giáp gọi gió hô mây siêu phàm nhập thánh … tưởng chừng như vị đại quân sư toả ra xung quanh mình một vầng hào quang sáng chói. Những khắc họa trên xa dời sự thực lịch sử đến thế nào? Đành rằng đối với một lượng độc giả nào đó, những khắc họa trên tạo cho họ ham đọc và hứng thú. Nhưng đối với một số người theo thuyết hiện sinh thì đo chỉ là những mắm muối nhí nhố…

Không chỉ là nhà quân sự, Lượng còn là một nhà tử vi và đoán số. Sinh thời, ông chơi thân với cả những bạn hơn tuổi. Thôi Châu Bình (ở Bác lăng), Từ Thứ, Thạch Quảng Nguyên ở Dĩnh Xuyên, Mạnh Công Uy ở Nhữ Nam, Tư Mã Huy và Bàng Đức Công đất Kinh Tương …

Từ Thứ hơn Gia Cát Lượng chừng 15 tuổi, học vấn tinh thông hơn Lượng lại nghiên cứu sâu về kinh điển, kiến giải rõ ràng, mạch lạc. Bàng Thống hơn Lượng 3 tuổi…. Có lần Lượng nói với Từ Thứ: “Các anh nay mai làm quan, xem tài cán chắc sẽ làm đến thứ sử hoặc quận trưởng. Từ Thứ hỏi: “Thế tiên sinh thì sao?”. Lượng chỉ cười mà không đáp. Sau này quả nhiên Từ Thứ làm quan với nhà Nguỵ đến chức Trung lang tướng kiêm Ngự sử. Mạnh Công Uy làm thứ sử Lương Châu. Thạch Quảng Nguyên cũng làm đến quận trưởng kiêm Điển nông hiệu uý. Còn ông Lượng thì làm đến Thừa Tướng.

Gia Cát Lượng Bắc phạt cả thảy là 7 năm, phát động 5 lần đánh nhau. Mấy lần xuất quân đều bị thua do nguyên nhân lương thảo không đầy đủ, hoặc sức của địch quá mạnh, hoặc nội bộ của nước Thục mâu thuẫn mà nửa chừng lui quân thật bất lợi.

Bây giờ ta thử nói đến việc Khổng Minh phò Lưu Bị một chút:

Khi Gia Cát Lượng xuống núi có thể chọn rất nhiều người mạnh hơn Lưu Bị như Tào Tháo, Tôn Quyền, Lưu Biểu, Lưu Chương,… để phò tá. Vì thế người ta sẽ hỏi tại sao Gia Cát Lượng lại tôn Lưu Bị làm minh chủ?

Cuối thời Hán, thiên hạ đại loạn, quân phiệt hỗn chiến, vô số kẻ muốn làm minh chủ, biết bao anh tài ẩn giật lũ lượt chọn minh chủ của mình. Nhưng Gia Cát Lượng vốn được người đương thời công nhận là người anh minh tài giỏi lại chọn vị minh chủ trơ trọi và có thực lực chính trị kém như Lưu Bị?

Nhiều người phân tích cho rằng: Gia Cát Lượng cảm động vì Lưu Bị 3 lần đến mời nên không trái ý. Cách lý giải đó kỳ thực không chắc chắn. Bởi vì Gia Cát Lượng quyết không phải là người thích yên ổn nơi ruộng đồng. Ông thường ví mình với Quản Trọng, Nhạc Nghị, lưu tâm đến chính trị, thiết kế “Long Trung đối” với mục đích giành được sự nghiệp huy hoàng. Trong lúc ông chờ thời ở Long Trung chính là để chọn người phò tá nhằm thực hiện lý tưởng của mình.

Coi nào! Tào Tháo là nhà chính trị, nhà quân sự kiệt xuất nhất thời đó. Những tay chân của Tào Tháo đều là những nhân tài văn võ song toàn, nếu Gia Cát Lượng về trướng Tào Tháo thì cũng chỉ ở dưới tầm họ mà thôi. Đồng thời Tháo tính cách tàn bạo, đa nghi mà lại gian trá, thường đùa với quyền lực. Quan điểm của Gia Cát Lượng khác biệt với Tháo nên không muốn theo ông ta.

Tôn Quyền cũng là một nhà quân sự kiệt xuất nhất đương thời nhưng thiếu hùng tâm thống nhất thiên hạ, chỉ muốn giữ toàn sự nghiệp cha ông, muốn yên ổn ở Giang Đông. Mà Gia Cát Lượng lại nuôi ý chí kết thúc chia cắt, thống nhất thiên hạ nên Tôn Quyền cũng không thích hợp với ông. Huống hồ Tôn Quyền kế thừa sự nghiệp cha ông để lại. Có các trọng thần hàng khủng kiểu quân sư như Trương Chiêu. Liệu rằng Lượng có hơn Chiêu khi về Ngô. Hơn nữa, lúc này, bên Ngô cũng có ông Gia cát Cẩn là anh em ruột thịt với ông về phò tá mà. Nếu Gia Cát Lượng theo Tôn Quyền thì cũng khó mà theo đuổi chí hướng của mình.

Những kẻ cát cứ khác như Lưu Biểu, Lưu Chương, Mã Đằng – Hàn Toại… trong suy nghĩ của Lượng họ là kém kiểu như “chó đá vãi cứt –cóc gặm gãy đùi” thì làm sao xứng đáng với sự phò tá của Gia Cát Lượng.

Chỉ có Lưu Bị là vị quân chủ lý tưởng của Gia Cát Lượng. Ông là họ hàng của nhà Hán, giương cờ hiệu phục hưng nhà Hán, có khả năng thu hút lòng người, chiêu mộ nhân tài, có lý tưởng thống nhất thiên hạ giống như Gia Cát Lượng. Những mãnh tướng của Lưu Bị như Quan Vũ, Trương Phi, Triệu Vân… Tuy tài giỏi nhưng thiếu sách lược quân sự mà Gia Cát Lượng lại phù hợp với trọng trách quân sư, có thể biểu hiện tài năng của mình.

Nhưng theo VietHoa tôi thì chỗ này ông Gia Cát Lượng quá tin tưởng vào cái “ Đức Độ -Nhân Từ” của ông Lưu Bị với niềm tinh “Đức năng thắng số” nên dốc tâm theo Bị. Nói như vậy bởi vì, nếu đã tài xuất quỉ, nhập thần, hô phong hoán vũ và coi tướng số, nhìn định thiên hạ …diệu kỳ cỡ ông Minh Lượng này thì làm gì không bấm tính ra được cái nhà Hán mạt kia sắp tiêu vong. Mà ông Lưu Bị lại núp vào đó mong mà hưng Hán thì làm sao vực nổi. Một người bỏ công cả đời mình cho một ông chủ mà biết chắc nó chỉ là “nước sông- công lính” không nhẽ không suy nghĩ?

Cái niềm tin của ông Gia Cát này thấy khá rõ trong lời dặn dò Gia Cát Quân khi dời Long Trung theo về Lưu Bị là: ”Thành công lại về điền viên cày ruộng…” thì đủ biết ông hi vọng Lưu Bị sẽ bá chủ thiên hạ đến cỡ nào.
Vậy nói là ông Khổng Minh đặt niềm tin nhầm? Có thể lắm chứ. Nhầm ở chỗ cái ông Lưu Bị kia dứt khoát không phải người thực thà như bác La Quán Trung mô tả mà đầy thủ đoạn và nhân nghĩa giả. Chắc chắn sau này ông Gia Cát nhìn rõ chân tướng nhưng cuộc đời kể như lỡ rồi.... Thêm nữa, chí làm trai sau bao nhiêu dùi mài học hành, nghiên cứu không có nhẽ chỉ để chém gió bên quán trà đá vỉa hè hay ngồi chảu mỏ coi chương trình thời sự trên ti vi có trực tiếp họp Hạ Viện mà đón ông này lên, ông kia xuống, tỉnh này sáp nhập, tỉnh kia tách rời...???. Vậy nên, buộc lòng ông Lượng cũng phải tìm chúa mà thời cho phỉ chí trai. Xem đi xét lại, bấy giờ còn mỗi ông Lưu Bị là có cửa để ông Lượng đại thành danh tới cỡ đó. Giá mà thời ấy đã có một Winston Churchill của Anh Quốc hay Abraham Lincoln của Hoa Kỳ thì có lẽ ông Lượng cũng vượt biên tìm tới... (Hặc!)

Đọc Tam Quốc, thấy Từ Thứ tiến cử rồi Lưu Bị 3 lần cầu hiền, cảm động nên Gia Cát Lượng mới xuống núi. Nhưng chuyện tôn trọng nhân tài, cầu hiền đãi sĩ như vậy ko thấy lịch sử ghi lại. Sách “Tam Quốc Chí” chỉ ghi lại một câu có liên quan tới việc này: Do tiên chủ mời 3 lần, Gia Cát Lượng bèn đi gặp Lưu Bị. Gia Cát Lượng còn viết trong “Xuất sư biểu” rằng: "Tiên đế không cho thần là kẻ thấp hèn, 3 lần đến lều cỏ của thần để mời thần cùng lo việc thế sự". Dựa vào tài liệu có đó để có thể soạn thành giai thoại thiên cổ Tam cố mao lư thì quả là sự sáng tạo.

Nếu phân tích tỉ mỉ tư liệu Tam cố mao lư thì thật là khó kết luận Gia Cát Lượng được Lưu Bị 3 lần đến lều cỏ mời. Vì trong lịch sử còn có ghi chép khác về sự kiện xuống núi.
Theo “Ngụy Lược” của Bùi Tùng chú dẫn có nói rằng: Lưu Bị đóng đồn ở Phàn Thành. Lúc đó Tào Công đóng quân ở Hà Bắc. Gia Cát Lượng Kinh Châu đang bị đe dọa mà Lưu Biểu mềm yếu, không hiểu việc quân sự. Thế là Gia Cát Lượng đi lên miền Bắc gặp Lưu Bị. Gia Cát Lượng dâng kế với Lưu Bị thu nạp dân du mục tham gia binh sĩ. Lưu Bị theo kế đó nên tăng được số lượng binh sĩ. Từ đó Lưu Bị biết Gia Cát Lượng là người tài giỏi, tiếp đón ông như khách. Căn cứ vào tư liệu đó, việc xuống núi của Gia Cát Lượng là hoàn toàn chủ động và  không phải do Lưu Bị mời.

Gia Cát Lượng không phải một đời là ẩn sĩ. Khi ẩn ở Long Trung, một mặt ông hệ thống lại kinh sử đã học, nâng cao kiến thức, một mặt lại quan tâm đến tình hình thiên hạ, cuối cùng đã hình thành kế hoạch Long Trung đối. Ông thường ví mình với Quản Trọng, Nhạc Nghị. Tất cả thề hiện Gia Cát Lượng không cam lòng chịu ở ẩn mà ôn ấp hoài bão kết thúc cục diện phân chia trong thiên hạ. Ông ẩn cư ở Long Trung chỉ là chờ đợi cơ hội.

Nhưng chắc chắn một điều rằng: Có nhân vật Khổng Minh trong Tam Quốc với những phán đoán thần  tình, dự kế vi diệu, cư xử lễ nghĩa…(tất nhiên cũng có lúc nhầm) đã làm cho Tam Quốc diễn nghĩa của La Quán Trung hấp dẫn lên thật nhiều. Nó hay đến độ là: nhiều người nhầm lẫn nên cứ vác Tam Quốc Diễn Nghĩa ra làm như đó chính là sử liệu của 2000 năm trước.

Với người soạn bài thì xin phép quí vị, chúng ta coi ai cũng là con người. Họ có hay, có dỡ và mình không nhất thiết phải khen họ giống như ông La Quán Trung khen họ. Đôi khi, ngồi buồn thì nói ngược một tý, lý sự ngược một tý cũng vui vui…
Còn tiếp nhiều kỳ Bình TQDN

Tin mới hơn:
Tin trước đây:

Sáng lập viên

Ông : Đăng Thọ Dũng
Emai: dangthodung@yahoo.com
Số TK  Ước Mơ Nhỏ - Đặng Thọ Dũng: 2009206008503
Tại: Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn, Chợ Mới, Đà Nẵng 
                                                                                                                                                                                                

Lời ngỏ

Sống là cho…
Triết học phương đông có câu: “Làm cho mình là làm cho cuộc sống, còn làm cho người là làm cho cuộc đời!”.
Với quan điểm nhân thiện, câu nói trên đã đi xuyên suốt lịch sử và làm nền tảng nhân ái của loài người. Đối với chúng tôi nó có một ý nghĩa cực kỳ sâu sắc...
  • Tin mới

  • Đọc nhiều nhất

Video: Tủ sách Yêu thương UMN

Nhấn vào để xem

Thư viện ảnh